Sân chơi nào cũng có luật lệ, việc tìm hiểu luật trước khi chơi là điều tối quan trọng, giúp ta tránh được những rắc rối không đáng có. Trong xu hướng toàn cầu hóa, thương mại điện tử (TMĐT) đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế cũng như sự phát triển chung của xã hội. Để quản lý chặt chẽ loại hình kinh tế mới mẻ và phức tạp này, Chính phủ đã đưa ra khá nhiều văn bản, nghị định, nghị quyết, thông tư liên quan. Nếu bạn đang có kế hoạch tham gia TMĐT thì không nên bỏ qua những văn bản luật sau:
Năm 2008
- Nghị định số 97/2008/NĐ-CP – Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet - Nghị định số 90/2008/NĐ-CP – Chống thư rác - Thông tư số 78/2008/TT-BCT – Hướng dẫn thi hành một số nội dung của Nghị định số 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính - Thông tư số 09/2008/TT-BCT – Hướng dẫn Nghị định thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website TMĐT - Quyết định số 343/2008/QĐ-TTg – Thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin
Năm 2007
- Quyết định số 018/2007/QĐ-BTM – Ban hành Quy chế cấp chứng nhận xuất xứ điện tử - Nghị định số 71/2007/NĐ-CP – Quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin - Nghị định số 63/2007/NĐ-CP – Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin - Nghị định số 27/2007/NĐ-CP – Quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính - Nghị định số 26/2007/NĐ-CP – Quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số
Năm 2006
- Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về TMĐT - Luật Công nghệ thông tin
Năm 2005
- Luật giao dịch điện tử - Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2006-2010
Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam của Bộ Công Thương
- Báo cáo TMĐT Việt Nam năm 2008 – Bộ Công Thương - Báo cáo TMĐT Việt Nam năm 2007 – Bộ Công Thương - Báo cáo TMĐT Việt Nam năm 2006 – Bộ Công Thương - Báo cáo TMĐT Việt Nam năm 2005 – Bộ Công Thương - Báo cáo TMĐT Việt Nam năm 2004 – Bộ Công Thương - Báo cáo TMĐT Việt Nam năm 2003 – Bộ Công Thương
Không thể duy trì “sự sống”, nhiều doanh nghiệp (DN) làm phần mềm nguồn mở (PMNM) tại Việt Nam đã đóng cửa và nhiều sản phẩm nguồn mở Việt không còn xuất hiện trên thị trường.
“Khai sinh” đã hơn 1 thập kỉ
Theo ông Tạ Quang Thái, Giám đốc Asianux Việt Nam, ở nước ta, PMNM manh nha phát triển từ năm 1998 theo nhiều luồng khác nhau. Luồng thứ nhất, trong các trường học, nơi sinh viên tìm đến các “kho” PMNM để lấy miễn phí mã nguồn về nghiên cứu, xây dựng nên các sản phẩm phục vụ học tập, thi cử.
Đáng tiếc, sau khi sinh viên ra trường thì các sản phẩm này cũng “tự động” ngừng phát triển bởi không có sự hỗ trợ của các doanh nghiệp hoặc các cơ quan Nhà nước.
Để tiếp thêm “sinh khí” cho những PMNM do sinh viên nghiên cứu phát triển, từ năm 2009 đến nay, một số tổ chức phi lợi nhuận như Hội Tin học Việt Nam, Viện Tin học Pháp ngữ… đã cổ vũ bằng cách tổ chức các cuộc thi như Mùa hè sáng tạo viết ứng dụng cho PMNM…
Thứ hai, các viện nghiên cứu, viện khoa học công nghệ sử dụng nguồn mở làm những sản phẩm nhúng trong thiết bị. Đã có nhiều thiết bị đóng gói sử dụng nguồn mở phục vụ cho ngành công an, quân đội như thiết bị an ninh, dò quét mạng, hoặc thiết bị dẫn đường GPS… được “xuất xưởng”.
Và luồng thứ ba là từ các DN CNTT-TT. Với đặc điểm đa phần DN vừa và nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, một số DN đã tìm kiếm PMNM có sẵn rồi phát triển thành sản phẩm của mình, sau đó thương mại hoá. Các sản phẩm PMNM này thường là sản phẩm tạo web (như Vportal của Vietsoftware) hoặc hỗ trợ làm việc cộng tác trên mạng (như iDesk của iNet Solution)… Hiện vẫn chưa có sản phẩm PMNM đặc thù phục vụ các chuyên ngành, lĩnh vực như tài chính, ngân hàng…
Gần đây, công ty MISA bắt đầu đem lại hi vọng về một phần mềm kế toán chạy trên Linux khi công bố hợp tác với Asianux để chạy thử phần mềm MISA trên nền nguồn mở, tuy nhiên hiện mới chỉ thành công trên môi trường giả lập. Cũng chính vì được DN CNTT-TT xây dựng và phát triển nhằm mục đích thương mại hoá nên tính đến giờ, cộng đồng nguồn mở Việt Nam đóng góp rất ít cho cộng đồng nguồn mở thế giới.
Vẫn sống chật vật
Hơn 10 năm qua, đã có nhiều PMNM do DN/người Việt Nam tham gia xây dựng/phát triển, điển hình như Unikey… Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có thống kê chính thức nào về số lượng PMNM Việt Nam cũng như số DN Việt Nam tham gia làm PMNM hay doanh thu đạt được từ PMNM.
Liệt kê thử danh sách những DN hoạt động thuần tuý về nguồn mở, có thể kể tới những cái tên như Nhất Vinh, Vsena, Asianux… Điểm lại trong số đó thì khá nhiều DN đã “rời bỏ cuộc chơi”.
Chẳng hạn như Vsena ngừng hoạt động khiến nhân viên phải tứ tán đi nơi khác “trú chân”. Hoặc Công ty Rồng Việt Nam năm 2009 tuyên bố khá mạnh về việc đưa ra một bản phân phối Linux tên là Phượng Hoàng (Fenix) song sau đó chẳng bao lâu, Fenix đã không phát triển được. Hoặc nhóm Rồng Việt, hết nguồn tài chính để “chạy” thì sản phẩm hệ điều hành Rồng Việt cũng không còn xuất hiện trên thị trường.
Tiếp tục “điểm danh” những PMNM nguy cơ “chết yểu”, một sản phẩm khá nổi tiếng trong giới PMNM là hệ điều hành Há Cảo, giờ cũng chỉ còn “lòng nhiệt tình” của một người, thi thoảng có thời gian rỗi thì đóng gói lại rồi “vứt ra” cho “sống”. Hoặc hệ quản trị nội dung Nuke Việt không tìm được nguồn hỗ trợ để triển khai.
Với những công ty PMNM Việt Nam còn đang tồn tại thì “cuộc sống” cũng không vui vẻ gì vì luôn phải “căng óc” tìm cách chống đỡ rất nhiều khó khăn như các chi phí hạ tầng, điện, nước… trong thời buổi “bão giá” đã và vẫn đang “ép chặt” DN.
“Ở Việt Nam, PNMM chưa thể “đứng” hoặc nói cách khác là “sống” bằng tên của một sản phẩm Việt. Chúng tôi cũng đang cố gắng xây dựng để Asianux có thể phát triển trên tên tuổi của mình và đóng góp cho cộng đồng nguồn mở nhưng thực sự vẫn chưa làm được nhiều. Nhìn chung, tại Việt Nam hiện nay, các công ty làm PMNM đang sống lay lắt, tồn tại được cũng là may”, ông Thái thẳng thắn chia sẻ với phóng viên Bưu điện Việt Nam.
Có lẽ cũng vì “khó khăn kinh tế” nên có DN “sống” bằng dịch vụ PMNM đều đều 6 năm qua vẫn chỉ có 20 nhân viên.
Bàn thêm về khái niệm PMNM Việt Nam “chết yểu”, ông Thái phân tích chỉ có DN PMNM “chết” chứ PMNM không bao giờ “chết” mà vẫn tồn tại, tiếp tục chờ đợi cơ hội được phát triển tiếp. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng trên thế giới đã có rất nhiều dự án PMNM “chết yểu” và Việt Nam chắc chắn cũng không “ngoại lệ”.
Cần “hồi sức” cho phần mềm nguồn mở
Phần mềm nguồn mở (PMNM) hay phần mềm tự do nguồn mở (PMTDNM) đã từng được coi là giải pháp giúp các cơ quan Nhà nước cũng như cộng đồng doanh nghiệp (DN) tiết kiệm đáng kể chi phí và hiện vẫn được đánh giá là công cụ hữu hiệu giúp người Việt làm chủ được công nghệ trong thời hội nhập.
Thế nhưng “sức sống” của PMNM sau 10 năm hình thành và phát triển ở Việt Nam hiện vẫn còn yếu. Rất nhiều DN làm PMTDNM đã phải “đóng cửa” hoặc âm thầm hoạt động trong cảnh “te tua” khi không có sự hỗ trợ đủ mạnh từ phía Nhà nước cũng như các Bộ, ngành liên quan. Bản thân cộng đồng DN PMTDNM cũng chưa thể tạo dựng thành một liên minh có khả năng hỗ trợ, hậu thuẫn lẫn nhau để cùng “chia ngọt sẻ bùi”. Thực tế phát triển PMNM hiện vẫn còn xa mới được như kì vọng.
Nhằm nghiêm túc nhìn nhận lại hiện trạng PMNM ở nước ta, Báo Bưu điện Việt Nam triển khai loạt bài ghi nhận, phân tích PMNM theo nhiều chiều khác nhau, qua đó mong muốn Chính phủ, các cơ quan Bộ, ngành, đặc biệt là cộng đồng DN đánh giá đúng hơn về tiềm năng cũng như “mở” thêm nhiều cơ hội hơn cho ứng dụng PNNM.
If you ask some, they’ll tell you Web 2.0 as we know it is probably on its way out the door. For many, Web 2.0 is characterized mainly by the ability of users to share information quickly with others, which has been developed into the phenomenon that we call social media. From Twitter to Facebook to YouTube and to all sorts of other kinds of communities, Web 2.0 is all about sharing and seeing. Now if you recall or were around during what is now known as Web 1.0, information was put up on a website and that was it–the best way of sharing it was privately through e-mails and such. There was little to no communication and if you wanted information, you had to go to the source for it. Can you imagine such a harsh internet? Now with Web 2.0 on it’s way out, the obvious question is, what in the world is Web 3.0 going to be?
What is Web 3.0?
If you’re anything like me, it’s hard to imagine how the internet is going to top sites like Twitter and Facebook. But it’s bound to happen and when you research Web 3.0, you find out it is going to be synonymous with the user’s interaction with the web. In Web 2.0 we focused on the users’ interaction with others, now we are going to focus more on the users themselves, which is always a plus. But how is this going to happen?
Web 3.0 is being referred to by experts as the semantic web; semantic meaning data driven. The data will come from the user and the web will essentially adjust to meet the needs of the user. For example, if you do a lot of searching for ‘design blogs’, you’ll receive more advertisements related to design. Also, when you search for other things, for example, ‘computers’, the web will keep in mind that you often search for design and may pull up search queries that combine ‘design’ and ‘computers’.
Benefits of Web 3.0?
A huge benefit of Web 3.0 is the move towards being able to access data from anywhere. This is mainly being driven by the heavy usage of smart phones and cloud applications. The idea here is to make sure that the user can access as much data as possible from anywhere, not just their home. Technology is trying to expand this idea in ways that allow TV’s to pick up on user data, and allowing smart phones to access data on your computer. For designers like myself who typically forget their jump drives, this is an amazing and useful advancement!
Web 3.0′s Effect on Design
So now that you have an idea of what Web 3.0 is and what it’s going to be, we have to ask the most important question for us: what does that mean for design? Web 2.0 design was based around drawing attention and persuading your audience, because after all, web 2.0 made a huge deal about being able to purchase things online. Web 2.0 wanted to generate excitement and get people to make a purchase and understand what they were doing. You want to make a purchase? Sure, then click this button. You want to join the mailing list? Great, then there’s no question about clicking this button. That is the basis of Web 2.0 design.
Other elements were added to make things more fun and give a bit of style. The usage of linear gradients in web 2.0 is almost necessary. Whatever color combination you desire, linear gradients are typically present from your background to your buttons. Other trends surfaced like various badges, rounded corners and a necessary usage of icons. But again the question remains, what can we expect for web 3.0?
Web 2.0 Design vs. Web 3.0 Design
In web 2.0 we had to create design that was great for the web. I think in web 3.0, we will firstly have to create design that is going to be good not just for the web and the web browser, but for all sorts of media. With the growth in the usage of smart phones and tablets, people want more usage out of their items and to be able to access more things as best as possible. Design will have to be able to translate in great quality across all sorts of technologies. Now while you can create two different websites (one for the web and one for mobile devices), designers and developers will have to kill two birds with one stone, by creating one website that will look good in both environments.
Also for Web 3.0, designers will continue to focus on making things simpler. The truth is, the designer has the absolute power to persuade viewers on where to look first and second and so forth and so on. By doing this the designer creates a hierarchy of importance, that should not be muddled by useless design. Designers will continue to design so that content remains king by putting much focus on it and taking focus off non-content things such as logos and navigation bars.
Web 3.0 Design Trends?
Using these types of techniques plays into the increasing popularity of the minimalist design technique, where the focus is not necessarily making something as simple as possible, but making it as simplistic as possible. Creating a site with non-flashy web elements makes the user HAVE to focus on the content of the site. Of course designers desire to design and will ‘fancify’ some things, but in Web 3.0, that isn’t the main focus. The focus is to draw the viewers’ eye to the content or other important information on the page.
Many of the design trends used in Web 2.0 will only change by way of design, but not really the usage. The change in Web 2.0 to Web 3.0 is about how the internet is used, not really how it’s seen (with the exception of mobile devices and such). I believe designs will continue to get more and more minimalistic while maintaining a certain sense of beauty, but of course we will continue to use buttons and rounded corners and gradients. The design of Web 3.0 will be based on the way designers decide to design it and what becomes popular.
More on Web 3.0
Perhaps you desire to do your own research on the budding Web 3.0. Well we have provided some slide shows and videos that will get you started on the right path. Web 3.0 isn’t here just yet, but when it does come, you should know what’s coming at you!
Cơ sở dữ liệu Oracle Database 11g chạy trên Máy chủ Doanh nghiệp Oracle SPARC Enterprise M9000 đã lập kỷ lục thế giới mới khi đo kiểm đánh giá theo chuẩn TPC-H 3 Terabyte không ghép nhóm.
Oracle SPARC Enterprise M9000
Cơ sở dữ liệu Oracle Database 11g trên SPARC Enterprise M9000 cung cấp hiệu năng cao gần gấp hai lần so với những kỷ lục thế giới trước đây cũng do Oracle sở hữu.
Máy chủ doanh nghiệp Oracle SPARC Enterprise M9000, một thành viên trong dòng máy chủ doanh nghiệp SPARC, chính là máy chủ doanh nghiệp có hiệu năng cao nhất của Oracle.
SPARC Enterprise M9000 được trang bị 64 bộ xử lý SPARC64 VII+ 3.0 GHz, tủ lưu trữ Sun Storage 6180, cơ sở dữ liệu Oracle Database 11g phiên bản 2 cùng hệ điều hành Oracle Solaris đạt kỷ lục thế giới theo chuẩn đánh giá TPC-H 3 TB không ghép nhóm là 386.478 QphH@3000GB với giá là 19.25 USD/QphH@3000GB.
Kết quả này cho thấy cơ sở dữ liệu Oracle Database 11g phiên bản 2 chạy trên máy chủ doanh nghiệp SPARC Enterprise M9000 nhanh hơn tới 2.4 lần so với hệ thống IBM Power 595 và tải toàn bộ cơ sở dữ liệu trong thời gian nhanh hơn tới 3.3 lần so với các hệ thống trước đây trong khi vẫn duy trì được cấp độ cao nhất về bảo vệ dữ liệu với mức chi phí/giao dịch thấp hơn.
Chuẩn đánh giá này nhấn mạnh năng lực của các máy chủ SPARC Enterprise M-series trong việc cung cấp khả năng mở rộng gần như tuyến tính và năng lực xử lý các cơ sở dữ liệu ngày càng lớn được đòi hỏi trong các hệ thống hỗ trợ ra quyết định và kho dữ liệu.
Cả IBM và HP đều không đạt được cấp độ hiệu năng như vậy trong loạt sản phẩm 3TB trên một hệ thống duy nhất, và điều đó cũng nêu bật hơn nữa các năng lực đảm bảo hiệu năng của các hệ thống SPARC được trang bị nhiều bộ xử lý trong những môi trường ứng dụng doanh nghiệp có đòi hỏi khắt khe nhất.
Theo nhận định của tờ Digitimes, năm 2011 sẽ là năm của các thiết bị giá rẻ chạy hệ điều hành Android. Các máy Android có giá thành dưới 150$ sẽ được gọi là giá rẻ và họ dự đoán sẽ có khoảng 20 đến 25 triệu máy như thế được bán ra trên toàn thế giới trong năm 2011, tăng gấp nhiều gần so với con số 2,5 đến 3 triệu máy trong năm 2010.
Chính những con chip được sản xuất từ Trung Quốc và Đài Loan sẽ làm cho các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM) lưu tâm hơn đến mảng thiết bị Android giá rẻ dành cho các thị trường mới nổi. Dự báo của Digitimes cũng cho rằng trong số hơn 20 triệu máy thì có 10 đến 13 triệu máy là được tiêu thụ tại Trung Quốc.
Japanese commercial (2011) by Google Inc to promote its Chrome web browser which emphasizes on speed and simplicity…
Hundreds of pictures are painted, scanned in sequence, opened on Chrome, and it turned into a mini-animation when the tabs are closed rapidly.
Not sure if other browsers could do similar stuff. There are other factors involved, the PC performance for example. In my case my browser would almost certainly crash, for whatever reason it is. Regardless, it’s a pretty cute commercial.
Facebook, với gần 600 triệu thành viên, đã tổ chức kỉ niệm 7 năm thành lập vào ngày 4/2 vừa qua. Hãy cùng nhìn lại những bước tiến đáng chú ý trong 7 năm hình thành và phát triển của mạng xã hội số 1 thế giới này.
Qua 7 năm phát triển, Facebook đã có cuộc “lột xác” không thể ngờ, từ một cổng giao tiếp dành riêng cho các sinh viên trường đại học Harvard để trở thành mạng xã hội lớn nhất thế giới, với gần 600 triệu thành viên, hàng tỉ lượt pageview mỗi ngày.
Dưới đây là những cột mốc đáng nhớ trong cuộc “lột xác” thần kì của Facebook:
2004
Ngay trong năm đầu tiên, Facebook đã có 1 triệu người dùng
Quay trở lại tháng 2/2004, những người giàu trí tưởng tượng nhất cũng không thể ngờ Facebook lại trở thành một thế lực, để định hình Internet như ngày hôm nay.
Ngày 4/2/2004, tên miền thefacebook.com chính thức được hoạt động và dành riêng cho sinh viên trường đại học Harvard.
Tháng 3/2004, Facebook mở rộng ra các trường Stanford, Columbia và Yale, sau đó là nhiều trường khác.
Tháng 6/2004, Facebook được chuyển về Palo Alto, California, cũng là trụ sở chính của Facebook hiện nay. Peter Thiel, đồng sáng lập Paypal, đầu tư 500.000 USD vào Facebook.
Tháng 9/2004: tính năng Groups (nhóm) và Wall (tường) được đưa vào Facebook.
Tháng 12/2004: Facebook đạt 1 triệu thành viên.
2005
Giao diện Facebook năm 2005
Tháng 8/2005: tên gọi TheFacebook trở thành Facebook.com
Tháng 9/2005, Facebook mở rộng ra các trường cấp ba và một số công ty.
Tháng 10/2005: tính năng chia sẻ hình ảnh (Photo) được đưa vào Facebook.
Tháng 12/2005: Facebook đạt 5,5 triệu thành viên.
2006
Giao diện Facebook năm 2006
Tháng 4/2006: Phiên bản Facebook dành cho điện thoại di động được ra mắt.
Tháng 8/2006: Nền tảng Facebook Platform, tính năng Notes (ghi chú) được ra mắt. Facebook trở thành đối tác quảng cáo với Microsoft.
Tháng 9/2006: Tính năng Cập nhật tin tức (News Feed) được đưa vào Facebook.
Ngày 26/9/2006: Facebook mở cho tất cả người dùng từ 13 tuổi trở lên, sẵn sàng cho một cuộc cách mạng.
Tháng 12/2006: Facebook có 12 triệu thành viên.
2007
Năm 2007, Facebook đạt mốc 50 triệu thành viên
Tháng 8/2007: Facebook ra mắt phiên bản website tối ưu dành riêng cho iPhone.
Tháng 10/2008: Giới thiệu nền tảng phát triển ứng dụng Facebook Platform trên điện thoại di động. Cũng thời điểm này, Microsoft đầu tư 240 triệu USD vào Facebook.
Tháng 11/2007: Nền tảng quảng cáo riêng của Facebook (Facebook Ads) được ra mắt.
Tháng 12/2007: Facebook đạt 50 triệu thành viên.
2008
Tháng 8/2008: Facebook thêm tính năng điều chỉnh riêng tư cho danh sách bạn bè (Friends List)
Tháng 4/2008: Tính năng Facebook Chat được ra mắt.
Tháng 7/2008: Ứng dụng Facebook for iPhone xuất hiện trên App Store của Apple.
Tháng 12/2008: Facebook đạt mốc 100 triệu thành viên.
2009
Tháng 2/2009: Tính năng “Thích” (Like) được xuất hiện, đồng thời Facebook thay đổi chính sách người dùng, gây ra nhiều cuộc tranh luận gay gắt trong cộng đồng người sử dụng Facebook.
Tháng 12/2009: Facebook có 350 triệu người dùng.
2010
2010 là năm “thăng hoa” của Facebook
Tháng 6/2010: Facebook đạt mốc 500 triệu thành viên
Tháng 8/2010: Ứng dụng Facebook Places ra mắt, cho phép người dùng sử dụng smartphone thông báo địa điểm hiện tại của mình thông qua Facebook.
Tháng 10/2010: Bộ phim “The Social Network” (Mạng xã hội) nói về nhà sáng lập Mark Zuckerberg và quá trình anh tạo ra Facebook được trình chiếu.
Tháng 12/2010: Nhà sáng lập Facebook, Mark Zuckerberg được tạp chí danh tiếng Time bầu chọn là “Nhân vật của năm” (Person of the Year).
2011
Facebook được dự đoán sẽ tiếp tục gặt hái thêm nhiều thành công mới trong năm nay
Tháng 1/2011: Facebook được định giá 50 tỉ USD. Trong khi đó, bộ phim “The Social Network” cũng đã thắng lớn tại liên hoan phim “Quả cầu Vàng” danh tiếng.
7 năm phát triển, một khoảng thời gian không qua dài nhưng Facebook đã vươn lên để trở thành 1 thế lực thực sự. Trong tương lai, Facebook được dự đoán sẽ tiếp tục gặt hái được nhiều thành công mới.
Hiện nay, hầu hết các thiết bị cầm tay cao cấp đều tích hợp công nghệ Bluetooth. Vậy thực chất Bluetooth là gì?
Tên gọi Bluetooth được đặt theo tên của một vị vua Đan Mạch
Công nghệ Buetooth là gì?
Bluetooth là công nghệ dựa trên tần số vô tuyến sử dụng để tạo kết nối giao tiếp giữa hai loại thiết bị khác nhau trong một cự li nhất định. Có rất nhiều các thiết bị sử công nghệ Bluetooth như: điện thoại di động, máy tính và thiết bị hỗ trợ cá nhân (PDA)...
Với công nghệ Bluetooth, người dùng hoàn toàn có thể làm việc trên máy tính với một bàn phím không dây, sử dụng bộ tai nghe không dây để nói chuyện hoặc nghe nhạc. Kết nối trong công nghệ Bluetooth là vô hướng và sử dụng giải tần 2.4 GHz, có thể đạt được tốc độ truyền dữ liệu 1Mb/s. Trong phạm vi 10m, tốc độ truyền tải dữ liệu qua Bluetooth lên tới 720 Kbps.
Lịch sử ra đời công nghệ Bluetooth
Tên gọi Bluetooth được đặt theo tên của một vị vua Đan Mạch - Harald Bluetooth. Ông vốn nổi tiếng về khả năng giúp mọi người có thể giao tiếp, thương lượng với nhau. Các nhà nghiên cứu đã dùng tên này để nhấn mạnh việc các thiết bị có thể trao đổi, kết nối với nhau qua công nghệ Bluetooth.
Ban đầu, Sven Mattison và Jaap Haartsen – hai nhân viên của Ericsson (hiện nay là Sony Ericsson và Ericsson Mobile Platforms) đã phát triển những tính năng đầu tiên của Bluetooth vào năm 1994. Sau đó Bluetooth Special Interest Group (SIG) tiếp tục triển khai công nghệ này từ ngày 20/5/1999.
Dần dần, Sony Ericsson, IBM, Intel, Toshiba và Nokia cùng nhiều công ty khác đã tham gia phát triển công nghệ không dây tầm gần này nhằm hỗ trợ việc truyền dữ liệu qua các khoảng cách ngắn giữa các thiết bị di động và cố định, tạo nên các mạng cá nhân không dây (Wireless Personal Area Network-PANs). Do đó, Bluetooth còn được gọi là IEEE 802.15.1.
Ngày nay, Bluetooth đã trở thành một trong những kết nối không dây thông dụng nhất trên toàn thế giới. Năm 2006, có khoảng 1 tỷ người sử dụng các thiết bị Bluetooth, tương đương với dân số của Ấn Độ. Cũng có tới 1/3 số lượng xe hơi mới sản xuất tích hợp công nghệ này. Trong số đó, các thiết bị liên quan đến âm thanh stereo có tốc độ phát triển nhanh nhất và có nhiều ứng dụng nhất.
Kết nối trở nên dễ dàng hơn nhờ Bluetooth. Ảnh: Gizmondo
Các “thế hệ” Bluetooth
Bluetooth 1.0. Tháng 7/1999, phiên bản Bluetooth 1.0 đầu tiên được đưa ra thị trường với tốc độ kết nối ban đầu là 1Mbps. Tuy nhiên, trên thực tế tốc độ kết nối của thế hệ này chưa bao giờ đạt quá mức 700Kbps. Phiên bản này còn khá nhiều lỗi và các nhà sản xuất đã rất khó khăn khi tích hợp nó với các sản phẩm công nghệ.
Bluetooth 1.1. Năm 2001, phiên bản Bluetooth 1.1 ra đời, đánh dấu bước phát triển mới của công nghệ Bluetooth trên nhiều lĩnh vực khác nhau với sự quan tâm của nhiều nhà sản xuất mới. Cũng trong năm này, Bluetooth đươc bình chọn là công nghệ vô tuyến tốt nhất năm.
Bluetooth 1.2. Ra mắt vào tháng 11/2003, Bluetooth 1.2 bắt đầu có nhiều tiến bộ đáng kể. Chuẩn này hoạt động dựa trên nền băng tần 2.4 Ghz và tăng cường kết nối thoại. Motorola RARZ là thế hệ di động đầu tiên tích hợp Bluetooth 1.2.
Bluetooth 2.0 + ERD. Một năm sau, vào tháng 11/2004, công nghệ Bluetooth 2.0 + ERD đã bắt đầu nâng cao tốc độ và giảm thiểu một nửa năng lượng tiêu thụ so với trước đây. Tốc độ của chuẩn Bluetooth lên đến 2.1 Mbps với chế độ cải thiện kết nối truyền tải – ERD (enhanced data rate), song ERD vẫn chỉ là chế độ tùy chọn, phụ thuộc vào các hãng sản xuất có đưa vào thiết bị hay không. Năng lượng sử dụng của kết nối Bluetooth chỉ còn tiêu hao một nửa so với trước. Các thiết bị tiêu biểu ứng dụng Bluetooth 2.0 + ERD là: Apple iPhone, HTC Touch Pro và T-Mobile’s Android G1.
Bluetooth 2.1 + ERD. Đây chính là thế hệ nâng cấp của Bluetooth 2.0. Bluetooth 2.1 có hiệu năng cao hơn và tiết kiệm năng lượng hơn. Chuẩn này chủ yếu đã được sử dụng trong trong điện thoại, máy tính và các thiết bị di động khác. Tuy nhiên, Bluetooth 2.1 không cho phép truyền các file lớn với tốc độ cao. Do đó, nếu người dùng muốn chuyển các file dung lượng lớn đến 1-2GB từ máy tính sang điện thoại thì chỉ có thể kết nối hai thiết bị này bằng dây cắm USB hoặc bằng thẻ nhớ .
Hiện nay, rất nhiều thiết bị công nghệ tích hợp Bluetoot. Ảnh: Mynokiablog
Bluetooth 3.0 + HS: Tháng 4/2009, Bluetooth 3.0 - thế hệ "siêu tốc" chính thức ra mắt. Bluetooth 3.0 có tốc độ truyền dữ liệu đạt mức 24Mbps – bằng sóng Bluetooth – High Speed, tương đương chuẩn Wi-Fi thế hệ đầu tiên. Chuẩn này giúp các thiết bị tương tác tốt hơn, tăng cường năng lực kết nối giữa các cá nhân với nhau và tiết kiệm pin nhờ chức năng điều khiển năng lượng nâng cao. Đặc biệt, nó có thể dò tự động các thiết bị gần kề và chuyển trực tiếp sang mạng Wi-Fi nếu các thiết bị đó có kết nối Wi-Fi. Tuy nhiên, phạm vi hiệu quả nhất chỉ trong vòng 10m. Bluetooth 4.0: Đây là phiên bản mới nhất của Bluetooth vừa được tổ chức SIG thông qua. Bluetooth 4.0 có nhiều đặc điểm chung với chuẩn 3.0, nhưng ngoài khả năng truyền dữ liệu tốc độ cao lên tới 25 Mb/giây, Bluetooth 4.0 còn bổ sung thêm khả năng truyền dữ liệu dung lượng nhỏ trong phạm vi ngắn (8-27 byte tốc độ 1Mbps) với mức tiêu thụ điện năng rất thấp giúp tiết kiệm năng lượng so với chuẩn cũ.
Bluetooth 4.0 nhiều khả năng sẽ dành cho các ứng dụng trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe và an ninh, chẳng hạn như đồng hồ đeo tay theo dõi sức khỏe, hoặc trang bị cho các bộ cảm biến nhiệt độ, nhịp tim, thể thao, và các thiết bị sử dụng tại gia. Tổ chức Continua Health Alliance đã đồng ý chọn lựa Bluetooth 4.0 làm công nghệ truyền dữ liệu cho những thiết bị y tế di động tương lai. Dự kiến các thiết bị sử dụng chuẩn bluetooth 4.0 sẽ ra mắt trong quý IV năm nay.
Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu cho rằng, quá lạm dụng thiết bị Bluetooth sẽ gây ảnh hưởng không tốt tới sức khoẻ do sóng radio gây ra.
2010 ghi nhận những bước nhảy vọt trong thế giới công nghệ và mở ra một tương lai đầy hứa hẹn. 2011 sẽ là năm chín muồi khi tất cả những công nghệ mới nhất được ứng dụng vào thực tế, kết hợp trong những sản phẩm tối tân. Các thiết bị mới sẽ “vượt rào” ra khỏi những khái niệm mà chúng đã khoác trên mình quá lâu.
Những chiếc TV không chỉ dừng lại ở khả năng hiển thị đẹp, thiết kế hào nhoáng, không chỉ để xem mà còn có thể lướt web, xem video trực tuyến, sở hữu những ứng dụng riêng mang lại nhiều lợi ích mà bạn khó có thể tượng tượng được.
Máy tính không đơn thuần chỉ là cuộc đua sức mạnh hay khả năng lưu trữ mà sẽ bước vào một kỷ nguyên mới với thế giới của điện toán đám mây hay vượt qua giới hạn của chuột và bàn phím. Máy tính sẽ không nằm ngoài vòng quay của sự hợp nhất – nơi mà tất cả các thiết bị đều-được-kết-nối.
Điện thoại di động sẽ ngập tràn trong thế giới của hàng triệu ứng dụng, hữu ích hơn với những sản phẩm dựa-trên-thực-tế như thông tin thời gian thực hay dịch vụ định vị. Điện thoại sẽ hòa đồng hơn trong thế-giới-được-kết-nối.
Không còn nghi ngờ gì nữa, 2011 sẽ là năm bản lề của thế giới công nghệ trong tương lai – một thế giới được kết nối, xóa nhòa đi những rào cản cố hữu bao gồm cả ngôn ngữ, chuẩn kết nối hay cả nền tảng phần mềm.
1. Công nghệ kết nối
Tốc độ kết nối sẽ phải nhanh hơn, ổn định hơn và con người nắm trong tay quyền kết nối ở bất cứ nơi đâu họ thích.
Thời gian trước, ADSL xuất hiện tại Việt Nam và ngay lập tức làm thế giới Internet trong nước bùng nổ. Và giờ đây, mạng viễn thông 4G đang được nhắc tới như một sự lặp lại của lịch sử.
ADSL đã hoàn thành sứ mệnh của mình, 3G mở ra một thế giới kết nối không dây làm con người tự do hơn. Và 4G sẽ là đỉnh cao khi mang đến bước đột phá về tốc độ và sự ổn định, ngay cả khi bạn đang di chuyển.
Năm 2011, 4G-LTE sẽ được thử nghiệm trên diện rộng. Và có lẽ chỉ cần một cú hích, 4G sẽ thực sự bùng nổ.
2. Điện toán đám mây
Điện toán đám mây (cloud computing) hiểu đơn giản là các phần mềm ứng dụng, tiện ích, dữ liệu sẽ được lưu trữ trên internet thay vì lưu trữ trên máy tính cá nhân. Các đám mây (cloud) là những máy chủ ảo trên internet – nơi mà các thiết bị cá nhân truy cập và sử dụng khi cần.
Nếu bạn còn nghi ngờ về “Điện toán đám mây”, hãy tham khảo câu hỏi mà Google thường đưa ra khi phỏng vấn cho các ứng viên khi xin việc: “Bạn sẽ làm gì khi các tài nguyên trong máy của bạn tăng gấp 1000 lần?”
Nói cách khác, khi bạn không thể lưu trữ lượng dữ liệu lớn như vậy trong máy tính thì hãy… đưa chúng lên mây và bạn có thể lấy xuống bất cứ khi nào bạn muốn, dù bạn ở đâu.
Đương nhiên, điều kiện cần là bạn có thể kết nối và với tốc độ cho phép.
Hệ điều hành Google Chrome mới ra mắt hồi tháng 11 vừa qua hứa hẹn sự đột phá mạnh mẽ khi hỗ trợ người dùng lưu trữ trực tuyến. Đây có thể sẽ là khởi nguồn cho một sự thay đổi lớn trong cách mà con người đang sử dụng công nghệ.
Với sự góp mặt của các đại gia trong lĩnh vực công nghệ như Google, Microsoft, Intel, HP, IBM… thời của Cloud computing sẽ không còn xa nữa.
3. Vi xử lý: Nhanh, tiết kiệm năng lượng hơn và HD
Chưa bao giờ cuộc đua tốc độ trên smartphone lại sôi động đến vậy. Năm tới, thế giới smartphone sẽ có những nâng cấp vượt bậc về tốc độ xử lý, vượt xa giới hạn 1GHz hiện tại. Năm 2010, Qualcomm giới thiệu thế hệ Chip snapdragon MSM8960 sử dụng bộ lõi kép Scorpion (tốc độ 1.2GHz) xử lý nhanh gấp 5 lần thế hệ Chip trước. Đồng thời cũng hỗ trợ đồ họa tốt hơn với GPU Adreno (tốc độ nhanh hơn 4 lần GPU hiện tại đang sử dụng trong HTC Desire) và hỗ trợ đa nhiệm trên nền mạng 3G hoặc 4G. Để so sánh, Qualcomm khẳng định chất lượng hình ảnh trên các thiết bị sử dụng chip MSM8960 sẽ tương đương với máy chơi game Xbox 360 hay PlayStation 3. Năm 2011, Qualcomm sẽ giới thiệu vi xử lý 1.5GHz - có tên mã QSD8672, hỗ trợ xem video 1080p, bộ nhớ DDR2, DDR3 và kết nối cổng HDMI. Nvidia đã ra mắt Chip xử lý 2 nhân cho tablet là Tegra 2 và đang hứa hẹn một mẫu chip xử lý lõi kép cho điện thoại thông minh vào năm 2011 tích hợp xử lý hình ảnh HD. Texas Instrument cũng sẽ trình làng vi xử lý lõi kép OMAP4430 vào cuối năm. Intel không ngồi ngoài với series chip Atom mới (Oak Trail và Moorestown) dùng cho tablet, hỗ trợ Windows, Meego và cả Google Android. Như vậy, vi xử lý 2 nhân là tiêu chuẩn cho smartphone năm tới, và tương lai gần sẽ là 4 nhân hoặc nhiều hơn với hiệu năng đồ họa cao hơn.
4. Chợ ứng dụng sẽ mở rộng
Lại thêm một xu hướng mà Apple là kẻ khai mào. Hiện nay tất cả các nền tảng cho smartphone đều có chợ ứng dụng riêng, từ BlackBerry Appworld, Android market, Nokia OVI…
Appstore đã vượt ra ngoài biên giới của smartphone khi Apple giới thiệu AppStore dành riêng cho máy MAC. Không khó để hình dung rằng, năm 2011 sẽ là năm của các chợ ứng dụng cho cả TV thông minh, kho ứng dụng cho Web, hay những kho ứng dụng được phát triển bởi hãng thứ 3.
Năm qua, gắn liền với sự phát triển của công nghệ là những con số đáng chú ý: Apple AppStore hiện tại có khoảng hơn 300.000 ứng dụng và hơn 7 tỷ lượt tải (thông tin từ Wikipedia), trong khi Android hiện có 175.000 ứng dụng và 2.2 tỷ lượt tải (theo AndroidLib).
Sự phát triển chóng mặt về số lượng ứng dụng đặt ra những vấn đề nhức nhối cho năm 2011. Đó là cách thức mà các hãng sử dụng để quản lý số ứng dụng này, lọc bỏ những ứng dụng vô ích và những ứng dụng có hại.
Những con số đáng chú ý từ cuộc bình chọn trên ReadWriteWeb: 29.25% người được hỏi không thích sử dụng Android Market, con số này của AppStore là 11.7%, BlackBerry AppWorld là 16.71% Nokia OVI là 15.88% và 11.7% dành cho Windows Phone Marketplace.
5. Máy tính bảng hay iPad và phần còn lại
Steve Jobs hùng hồn tuyên bố, iPad là sản phẩm quan trọng nhất mà ông sáng tạo ra. Ngay khi những lời này được tuyên bố, nhiều người đã tỏ ý nghi ngờ, nhưng thực tế đã chứng minh ông đã hoàn toàn đúng.
Bill Gates và Microsoft đi lên từ hệ điều hành Windows với giao diện người dùng(GUI), bàn phím và chuột. Apple và Steve Jobs đang bắt đầu một kỷ nguyên mới với những thiết bị không có cửa sổ, không bàn phím và không cả chuột. Đó là kỷ nguyên của những máy chơi game cầm tay, điện thoại thông minh, iPods và gần đây nhất là máy tính bảng mà iPad là điểm khởi đầu.
Năm 2011, người ta chờ đón những sản phẩm đầu tiên sử dụng Android 3.0 Honeycomb cũng như chờ đợi kết luận cuối cùng từ phía người dùng: kích cỡ nào là phù hợp cho một chiếc máy tính bảng? 5”, 7”, 9” hay 10”?
iPad và iPad 2 vẫn sẽ là chủ đề của năm 2011 mặc cho Android đang đi lên như vũ bão, mặc cho các hãng lớn như HP, Dell,… tranh giành thị phần. Bởi lẽ khá đơn giản, những đối thủ như Dell Streak, BlackBerry Playbook hay Samsung Galaxy S đang tỏ ra chậm chân và không vượt trội về cả tính năng lẫn thiết kế.
Apple vẫn đang nhanh chân hơn đối thủ.
6. Điện thoại thông minh và hơn thế nữa
Những năm gần đây, điện thoại thông minh luôn tiên phong với những công nghệ mới nhất. Năm 2011, bạn sẽ làm gì với chiếc điện thoại có tốc độ xử lý dual-core 1.2GHz, tốc độ mạng 4G siêu nhanh và cả triệu ứng dụng đang chờ bạn để mắt đến?
Các website sẽ phải có phiên bản dành riêng cho điện thoại/máy tính bảng màn hình cảm ứng. Tính đến đầu năm 2010, đã có khoảng hơn 300.000 website có giao diện cảm ứng. Năm 2011 cũng hứa hẹn sự phát triển của các ứng dụng trên nền web.
Dịch vụ “ăn theo” đáng chú ý trên nền công nghệ điện thoại thông minh, đó là dịch vụ định vị. Dịch vụ này sẽ không chỉ giúp ích cho việc du lịch, tìm đường đi hay các địa điểm mua sắm. Nó còn hứa hẹn sẽ tích hợp với các ứng dụng khác giúp smartphone của bạn thông minh hơn, có thể tùy chỉnh chế độ theo thời gian và địa điểm bạn có mặt. Ví dụ, điện thoại của bạn sẽ tự động tắt chuông khi bạn có mặt ở bệnh viện hay những nơi nào cấm tiếng ồn, đưa ra các cửa hàng mua sắm gần bạn nhất, tự động cập nhật tin tức tại địa phương nơi bạn vừa đặt chân đến,…
Dịch vụ cung cấp thông tin thời gian thực Augmented Reality (AR) là công nghệ giúp hiển thị thông tin thông qua màn hình và camera của điện thoại thay vì hiển thị trên Maps kết hợp với internet, GPS và la bàn số. Công nghệ này thường được biết đến với các ứng dụng chỉ đường, giúp người dùng tương tác trực tiếp với môi trường xung quanh trên các điện thoại chạy iOS hay Android.
Trong năm 2011, công nghệ này sẽ được áp dụng triệt để hơn trong nhiều hoạt động khác. Hiện nay, phiên bản thế hệ mới nhất của Google Earth cũng đang chỉ cho chúng ra cách xóa nhòa ranh giới giữa thế giới thực và ảo ngày một rõ nét hơn. Hoặc đơn giản, khi bạn muốn biết thông tin về ai đó, hãy đưa camera lên và các thông tin cá nhân của họ sẽ xuất hiện như: Flickr/Picasa, Facebook/twitter….
Cuộc chiến hệ điều hành trên smartphone vẫn sẽ tiếp tục với sự khẳng định của iOS, sự vượt bậc Android, Windows Phone 7 và đáng buồn, sự sụt giảm của Nokia Ovi (hiện tại Nokia vẫn chưa có sản phẩm nào sử dụng chip Dual-core).
Đáng quan tâm khác: thanh toán trực tuyến qua điện thoại di động.
7. Máy tính xách tay: Hãy nói đến SSD
Laptop đã đến điểm bão hòa. Doanh số sẽ tăng chậm hơn bởi sự ảnh hưởng từ máy tính bảng.
Ổ cứng SSD đã rẻ hơn thời điểm ra mắt khá nhiều và năm tới hoàn toàn có khả năng sẽ được phổ biến rộng rãi bởi ưu thế tuyệt đối về tốc độ và an toàn dữ liệu.
Intel cũng đã giới thiệu bộ xử lý Intel Core thế hệ 2 có tên mã Sandy Bridge. Đồ họa tích hợp trong Sandy Bridge sử dụng công nghệ xử lý 32nm, nâng cao khả năng xử lý hình ảnh, hỗ trợ mạnh video độ phân giải cao HD, hình ảnh 3D, chơi game phổ thông, và tối ưu ứng dụng đa phương tiện. Tốc độ mã hóa HD trên Sandy Bridge nhanh hơn nhiều lần so với hệ thống Core i7 cùng tốc độ.
Trong thiết kế, các nhà sản xuất cũng đang loay hoay để có bước tiến mới, Dell giới thiệu laptop với màn hình cảm ứng, Acer “chơi trội” với mẫu laptop có 2 màn hình cảm ứng sử dụng bàn phím ảo…
Thị trường PC chưa có dấu hiệu của sự đột phá. Khi mà Sandy Bridge vẫn còn ở thì tương lai xa, điểm sáng duy nhất là các hãng sản xuất ổ cứng sẽ lần lượt tung ra các thế hệ ổ cứng mới với dung lượng lưu trữ lớn hơn, tốc độ cao hơn. Cũng có một vài cuộc nghiên cứu cho rằng, PC All-in-one sẽ là xu hướng cho năm tới nhưng tại Việt Nam, dòng sản phẩm này vẫn chưa phổ thông.
8. HDTV: Tương lai là InternetTV, 3D thì sao?
TV kết nối internet đang là trào lưu mới, được cổ xúy bởi những thương hiệu hàng đầu như Apple, Google, Microsoft, Yahoo!, Logitech và các hãng sản xuất TV lớn như Sony, Samsung, LG, Panasonic….
Apple nổ phát súng đầu tiên khi trình làng AppleTV phiên bản mới có giá rẻ, chỉ 99$ (phiên bản đầu có giá tới 299$). Các nội dung trực tuyến như ABC, Fox, Netflix, Youtube hay Flickr có tại thư viện phim ảnh trực tuyến lớn nhất thế giới trên iTunes có thể được tải về với mức giá chỉ 0.99 USD.
Google TV ra mắt cùng với Sony hay set-top box Logitech cho phép người dùng sử dụng TV như một máy tính thông thường và hoàn toàn miễn phí nội dung. Toshiba và Vizio vừa tuyên bố cũng sẽ ra mắt TV nền tảng Google Android trong năm tới. LG, Samsung hay Panasonic đều đã có TV kết nối internet và kho nội dung cho TV riêng.
Microsoft, Yahoo! cũng lần lượt tuyên bố sẽ có những nội dung riêng phục vụ cho TV kết nối internet.
Một rắc rối nho nhỏ, đó là sự bất hợp tác của các đài truyền hình lớn, với nỗi lo bị hao hụt thuê bao truyền hình. Hiện các cuộc đàm phán đang diễn ra, và nếu suôn sẻ, InternetTV sẽ không còn rào cản.
Công nghệ 3D đang chìm dần đi, sự thiếu hụt về nội dung 3D, sự bất tiện với những cặp kính và mức giá cao là nguyên nhân chính. Chủ tịch hiệp hội điện tử (CEA) đã đăng đàn tuyên bố, 3D đã bị thổi phồng quá mức, 3D không phải là 1 thể loại, 1 sản phẩm mà chỉ là 1 tính năng nên có trên các mẫu TV hiện đại.
Điều này đang tỏ ra là đúng.
9. Thế giới Internet: Bài toán bảo mật
Câu hỏi lớn nhất trong thế giới của internet đó chính là khả năng bảo mật. Và tất nhiên, vẫn chưa có câu trả lời xác đáng nào từ các nhà quản lý dịch vụ, các đơn vị quản lý hạ tầng. Những câu chuyện bảo mật năm 2010 như Gawker, Wikileaks, Google, Facebook,… vẫn còn nóng hổi.
Người dùng internet cần được bảo vệ, thông tin của họ cũng cần được cá nhân hóa tối đa, đây vẫn là bài toán khó trong thế giới được kết nối. Câu trả lời toàn vẹn nhất cho đến lúc này chính là: “người dùng hãy biết tự bảo vệ mình trước”.
Thế giới web năm tới cũng sẽ chờ đợi những thay đổi lớn từ HTML5. Sự ra đời của công nghệ HTML5 mã nguồn mở hoàn toàn miễn phí khiến cho giới lập trình web trở nên hào hứng hơn bao giờ hết. HTML5 cho phép chèn trực tiếp một đoạn video hay nhạc vào trang web thông qua 2 thẻ "
Google đang là hãng đi tiên phong ứng dụng HTML5 trong các sản phẩm của mình với tính năng kéo-thả trong Gmail. Các trình duyệt cũng đang dần hoàn thiện mình để hỗ trợ ngôn ngữ này tốt hơn.
Mạng xã hội đã và đang có những biến thể mới. Đặc biệt phải kể đến “social shopping” - mạng xã hội mua sắm.
Đó là câu chuyện của Groupon – câu chuyện thành công nhất trên internet năm 2010 với hình thức mua/bán hàng mới, không chỉ 1 mà là 1 nhóm khách hàng cùng mua 1 sản phẩm. Hình thức mua bán này đang khá phổ biến trên thế giới với rất nhiều website tương tự như Livingsocial.com, Mobile Spinach.com…, tại Việt Nam cũng đã xuất hiện 1 số website tương tự, ví dụ muachung.vn.
Mạng xã hội mua sắm thời gian thực (real-time social shopping) gây chú ý khi Amazon mua lại Woot. Mỗi ngày, Woot sẽ đưa ra một sản phẩm được giảm giá cực nhiều và sẽ kết thúc ngay khi hết một thời gian hoặc sản phẩm được bán hết.
Những hình thức social-shopping khác đáng để tham khảo như: FacebookShopping, Blippy, Kaboodle, SocialCurrency, Tecca,…
10. Và những điều còn lại…
Năm 2010, doanh số ebook tăng gần gấp đôi, chiếm 9% doanh thu của cả thị trường sách tại Mỹ (thông tin từ Hiệp hội xuất bản Mỹ). Các thiết bị chuyên dụng đọc sách điện tử cũng đa dạng hơn với Amazon Kindle, Sony reader, Barnes & Noble Nook…, sự xuất hiện của iPad và ứng dụng iBook góp phần không nhỏ trong xu hướng đọc ebook.
Vẫn còn nhiều tranh cãi về văn hóa đọc, giữa 2 sự lựa chọn là ebook và sách truyền thống, nhưng một thực tế hiển nhiên là ebook đang thay đổi cách đọc sách của nhiều người.
Năm 2011, thị trường ebook cũng sẽ sôi động hơn với sự tham gia mạnh mẽ từ kho ebook của Google.
Văn hóa đọc online cũng đã và sẽ có những sự thay đổi lớn bởi sự phát triển của mạng xã hội. Con người đang có xu hướng thích đọc tin được bạn bè chia sẻ qua mạng xã hội, các trang chia sẻ tin tức (social bookmarkings) hoặc đọc tin qua các trang tổng hợp tin. Điều này lý giải phần nào sự thành công của một số website như Stumble, Diigo, reddit…
Các ứng dụng thu thập và đọc tin chuyên dụng như Flipboard dành cho iPad, Instapaper – ứng dụng lưu lại tin…
Trở lại thời điểm tháng 12 năm 2010, CIO.com đã đưa ra 11 giải pháp dành cho các khách hàng sử dụng dịch vụ IT giúp họ thiết lập thêm các mối quan hệ ngay trong năm mới 2011 này.
Tuy nhiên, giải pháp cho một phía khách hàng thôi là chưa đủ. Chính vì lẽ đó, mở đầu năm 2011 này chúng tôi đưa ra thêm các giải pháp dành cho phía còn lại, phía các nhà cung cấp dịch vụ IT.
Giải pháp số 1: Giúp khách hàng định hướng Những công ty thuê ngoài đã có được tất cả các cơ hội để cắt giảm chi phí trong năm 2010 và bây giờ là lúc họ chia sẻ những gì họ học được trong năm qua. Theo ông Adam Strichman, người sáng lập Công ty tư vấn Sanda Partners cho hay “Tìm cách đẩy các chi phí để làm lợi cho khách hàng” và “Đừng chỉ bán cho khách hàng những dịch vụ hứa hẹn sẽ tiết kiệm tiền cho họ một ngày nào đó mà cần phải tìm cách đẩy chi phí ngay bây giờ. Đây không phải là điều mà khách hàng yêu cầu nhưng đó là điều chúng ta tự hiểu là cần phải làm". Một khi điều này được thực hiện hoàn thiện sẽ làm cho khách hàng sửng sốt vì giá giảm bất ngờ. Còn về phía ông Mark Ruckman, một nhà tư vấn độc lập đang làm việc với Sanda Partners thì cho rằng: “Các nhà cung cấp dịch vụ phải là những người cực kỳ thông minh, có thể hiểu được cả việc kinh doanh của khách hàng và hơn thế nữa họ phải là người luôn có những ý tưởng để cắt giảm chi phí”. Ông nói thêm: “Rất hiếm khi những ý tưởng này xảy ra từ phía khách hàng bởi chúng không tạo ra giá trị thặng dư cho nhà cung cấp. Bỏ những món lợi nhỏ để dành lợi ích lớn hơn. Việc tiết kiệm này không cần phải quá lớn mới có thể tạo nên tác động tích cực tới mối quan hệ 2 bên.” Giải pháp số 2: Tìm kiếm và cung cấp một cách rõ ràng Không có một CIO nào trên thế giới mà không cố gắng tìm ra phương thức, thời điểm, lý do và vị trí để áp dụng dịch vụ đám mây trong năm nay. Tuy nhiên hầu hết các nhà cung cấp vẫn còn e dè khi đi tìm tương lai “đám mây” cho chính công ty mình. Ông Steve Martin, đối tác của công ty tư vẫn Pace Harmon cho biết: “Các nhà cung cấp bậc 1 cần phải làm sáng tỏ hoặc ít nhất cũng cần làm rõ hơn các dịch vụ đám mây của mình bằng cách cung cấp các dữ liệu xác thưc về kinh tế và cách hoạt động cho khách hàng. Bắt đầu từ việc so sánh đơn giản các dịch vụ IT họ cung cấp với các dịch vụ dựa trên “đám mây” tương đương”. “Nhà cung cấp dịch vụ cần kết nạp điện toán đám mây trước khi nó kết nạp họ”, ông Stan Lepeak, quản lý, giám đốc nghiên cứu toàn cầu về tư vấn thuộc công ty EquaTerracho hay. Còn ông Eric Simonson, đối tác quản lý của công ty tư vẫn Everest lại có lời khuyên răng: “ Cần phối hợp với những đầu sỏ của các ngành công nghiệp để tiếp tục phát triển các tiêu chuẩn về bảo mật và khả năng tương tác”. Giải pháp số 3: Nói đúng ý muốn nói Giải pháp này là đúng đắn đối với các nhà cung cấp cũng như nó đã từng đúng đối với khách hàng. Không có gì có sức mạnh hơn thái độ thẳng thắn, vô tư trong việc thiết lập một mối quan hệ mới hay hàn gắn lại mối quan hệ trước đó. “ Thay vì dùng powerpoint hay bất cứ công cụ nào khác, hãy nói chuyện trực tiếp với khách hàng bằng ngôn ngữ dễ hiểu. Hãy thẳng thắn cho dù bạn đang nói về điện toán đám mây, hay bất cứ điều gì”, chia sẻ của ông Phil Fersht, CEO của công ty phân tích HfS Research. Giải pháp số 4: Thành thật khi nói về những mặt hạn chế Thời gian làm giảm giá trị đề xuất của tất cả các bản hợp đồng. “ Đôi khi đó chỉ là một hợp đồng dịch vụ nhỏ nhưng đôi khi nó cũng có thể liên quan tới cả lĩnh vực dịch vụ”, ông Strichman cho hay, “Các nhà cung cấp là người biết rõ nhất những điều đó và thường có thái độ không thích thừa nhận nó”. Không có điều khoản nào trong hợp đồng nói rằng bạn phải nói với khách hàng rằng họ đang chi hàng triệu đô la theo tỷ giá thị trường cho việc lưu trữ và hỗ trợ mấy tính để bàn. Nhưng hãy mở đầu câu chuyện với việc nói vợi họ rằng bạn sẽ tiếp tục nâng giá trị và đẩy mạnh kinh doanh với vị khách hàng đó thay vì phát triển thêm mối quan hệ. Ông Ruckman chia sẻ: “Tôi thực sự khuyên các nhà cung cấp hãy đi theo mô hình Costco-like (COST), mô hình mà tại đây các nhà quản lý sẽ phải chịu mọi hình phạt nếu như để công ty đi chệch hướng quy định. Điều này sẽ giúp các nhà cung cấp tập trung hơn vào giá trị khách hàng và ký kết thêm nhiều hợp đồng”. Giải pháp số 5: Tránh những mối quan hệ xấu Đảm bảo chắc chắn rằng tình hình hiện nay là trong tầm kiểm soát nếu không tất cả mọi người sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức và rủi ro. Fersht của HfS chia sẻ: “Hãy bỏ những giao dịch xấu mà đang chịu sự chi phối của những kẻ nịnh bợ. Chỉ có 1 cách duy nhất để thay đổi trò chơi này đó là nhấn mạnh hơn vào các điều khoản có thể làm đổi mới và tăng giá trị mà không đơn thuần chỉ là chi phí thấp và ép lề bỏi những điều này cuối cùng thì cũng không phải là tất cả”. Giải pháp số 6: Bắt đầu mọi thứ bằng bàn chân phải “Tại sao việc chuyển đổi từ nhà cung cấp gia công phần mềm IT gốc sang nhà cung cấp mới gần như không thay đổi tình trạng báo động?”, ông Martin của Pace Harmon băn khoăn. Các nhà cung cấp gia công phần mềm rất giỏi trong việc tạo ra các kế hoạch chuyển đổi trên giấy tờ nhưng lại rất kém trong việc quản lý thực tế. Ông Martin cho rằng: “Các đại lý cung cấp đang dần trở nên yếu về việc quản lý dự án, một sự thật mỉa mai với lịch sử của họ. Thậm chí một người CIO đã hỏi chúng tôi rằng liệu các nhà cung cấp có tìm ra được nét độc đáo trong quá trình chuyển đổi để tạo ra cho khách hàng sự tin tưởng khiến họ phải suy nghĩ thật kỹ trước khi chuyển sang một nhà cung cấp mới trong 5 năm”. Trong năm nay, hãy đảm bảo rằng tất cả các hợp đồng mới không chỉ có cấu trúc chuyển đổi rõ ràng mà cần có thêm kinh nghiệm quản lý và kiểm soát chất lượng của kế hoạch đó. Ông Martin còn khuyên thêm rằng cần chú trọng, quan tâm tới những nhà quản lý có năng lực, phát triển cơ cấu để đạt được điều này” Giải pháp số 7: Đi theo con đường đúng đắn "Bạn nói với khách hàng của bạn rằng bạn muốn trở thành đối tác của họ chứ không chỉ là một nhà cung cấp dịch vụ. Bạn bán sản phẩm dựa trên ý tưởng của sự đổi mới hơn là việc giữ nguyên hiện trạng. Bắt đầu phân phối. Hãy đầu tư thực sự đặc biệt đối với các tài năng tư vấn để giúp khách hàng di chuyển vượt ra ngoài chiến thuật để đạt tới tầm chiến lược”, ông Fersht của HfS Research cho hay. Giải pháp số 8: Tập trung vào những gì quan trọng Tạm ngưng việc chào hàng mà thay vào đó hãy tập trung vào việc cung cấp. “Đừng cố bán tất cả các sản phẩm mới cho khách hàng nếu các sản phẩm này không mang lại giá trị định lượng và phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Điều này làm lãng phí khoảng lớn thời gian của khách hàng”, ông Ruckma khuyên. Thay vào đó hãy đầu tư và khả năng quản lý các mối quan hệ. “Khả năng tạo ra và duy trì quan hệ đối tác năng động sẽ tạo tiền đề cho việc tăng trưởng dài hạn và đầu tư liên doanh”, ông Everest chia sẻ, “Các mối quan hệ được xây dựng theo mô hình chia sẻ rủi ro sẽ tạo ra tiềm năng lợi nhuận lớn hơn cho cả hai bên về lâu dài." Giải pháp số 9: Chia sẻ kiến thức "Khi phải vất vả lắm mới chiến thắng một khách hàng gia công phần mềm bằng các chiến lược hay chiến thuật thì các chiến lược hay chiến thuật đó rất hiếm khi được chia sẻ với những người khác. Điều này thật lãng phí! Hãy để năm 2011 là năm bạn thực sự tận dụng các kiến thức trong cộng đồng khách hàng của bạn”, Ông Atul Vashistha, CEO của công ty tư vấn Neo Advisory chia sẻ. Giải pháp số 10: Là chính mình Bạn biết tầm quan trọng của sự khác biệt thị trường; hãy nắm lấy nó ngay bây giờ. “Các nhà cung cấp gia công phần mềm cần phải đưa DNA thực sự của họ ra thị trường và cho thấy ngành công nghiệp mà họ đang đi theo cũng như cái mà họ đnag cố gắng đạt được”, ông Fersht của công ty HfS Research chia sẻ. Giải pháp số 11: Tuân theo “Golden Rule”- Nguyên Tắc Vàng Đây là những nguyên tắc cũ nhưng nó lại rất hữu ích không chỉ cho các nhà cung cấp mà cho cả khách hàng. Hãy thử tưởng tượng bạn ký một bản hợp đồng giá cố định để xây một căn nhà nhưng chăng lâu sau khi bắt đầu xây dựng các yêu cầu bắt đầu thay đổi. Bạn muốn gạch lát nền loại đó? Không có trong hợp đồng. Cửa trong phòng tắm?- Không có trong hợp đồng. Ổ điện an toàn?- Ngoài phạm vi làm việc. Cuối cùng thì ngôi nhà mơ ước của bạn lại trở thành một cơn ác mộng. Ông Ruckman chia sẻ: “Hầu hết mọi người không muốn nhà thầu dùng những đồ rẻ tiền kém chất lượng cho ngôi nhà của mình. Tuy nhiên nhân viên của các nhà thầu này lại luôn tìm cách để moi tiền của khách hàng bằng cách đó. Do đó, các nhà cung cấp dịch vụ cần phải dạy cho các nhà quản lý của họ đối xử với khách hàng như đói xử với chính mình”.
2010 đã chứng tỏ là một năm thành công nữa của Apple với các điểm nhấn chính là iPad và iPhone 4.
Mở đầu video là sự kiện CEO Steve Jobs công bố máy tính bảng iPad, sự hồ hởi của mọi người khi iPad chính thức được tung ra thị trường. Tiếp theo, video giới thiệu một sản phẩm “đinh” khác trong năm của Apple: iPhone 4 với camera phía trước để chat video. Sản phẩm của Apple được đón nhận nồng nhiệt ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản.
Bắt đầu từ phút thứ 4, video đề cập đến việc ông Jobs chỉ trích công nghệ Flash của Adobe. Sau đó là hình ảnh ông giới thiệu các sản phẩm như iPod nano, Apple TV và MacBook Air. Cuối video là đồ thị biểu diễn sự tăng giá của cổ phiếu Apple.